Thứ Ba, 12 tháng 1, 2016

Nhiều ngành khó tìm việc nhưng lắm người theo

1 thực tế đang diễn ra là những thanh niên lúc định hướng tương lai thường tìm các ngành “hot”, mang thể kiếm được đa dạng tiền mà xem nhẹ đến thực tiễn nhu cầu của thị trường lao động. Để rồi kết quả là ra trường thì thất nghiệp.

đa dạng ngành khó chọn việc…
Ông Trần Anh Tuấn, Phó giám đốc thường trực Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và Thị trường lao động TPHCM (Falmi) nhận định: “Thị trường lao động thành phố HCM tiếp tục sở hữu sự chênh lệnh cung – cầu. Trong đấy, ngành Tài chính – Ngân hàng có biểu hiện chênh lệch rõ nét nhất”.
Đây là ngành nghề mang số lượng người chọn việc làm cho luôn luôn vượt so có nhu cầu tuyển dụng của các công ty trong các năm trở lại đây.
Theo ông Tuấn, năm 2012 là năm phổ biến ngân hàng thực hiện tái cơ cấu bộ máy nhân sự, hàng loạt thay đổi nhân sự không chỉ ở vị trí cao cấp mà còn ở các cấp trung và rẻ, đa dạng ngân hàng cắt giảm nhân sự. bởi thế, tìm việc trong ngành này những năm mới đây là một thử thách.
Dịch vụ báo cáo thuế tại Hà Nội
Nhiều ngành khó tìm việc nhưng lắm người theođa dạng ngành khó tìm việc nhưng lắm người theo
Ngành thứ 2 là ngành Kế toán – Kiểm toán. Ông Tuấn cho biết: “Ngành nghề này với phổ biến biến động về nhân sự, đặc trưng là nhân sự với chuyên môn giỏi, tuy là nhóm ngành nghề liên tục được tuyển dụng và có nhu cầu, nhưng nhân lực tìm việc trong nhóm ngành nghề này luôn cao hơn so mang nhu cầu tuyển dụng ở toàn bộ các trình độ”.
1 ngành khác không kém cam go trong thời điểm hiện tại là ngành thiết kế – Kiến trúc. Ông Tuấn nhận định: “Cùng có sự khó khăn của nền kinh tế, thị trường bất động sản cũng ko mấy sáng sủa, hàng loạt doanh nghiệp trong ngành kiến trúc – thiết kế tạm ngưng hoặc ngưng hoạt động, đặc thù những doanh nghiệp vừa và nhỏ. bởi vậy, trong năm 2012 nhu cầu tuyển dụng giảm gần 50% so năm 2011, tỷ lệ người lao động trong ngành Kiến trúc – xây dựng thất nghiệp cũng tương đối cao. Số chỗ khiến việc trống chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu tìm việc khiến cho ở các trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học”.
Nhưng vẫn lắm người theo
Ông Nguyễn Minh Hiếu, Trưởng bộ phận nhân lực Chonviec cho biết: “Trong hệ thống hồ sơ ứng viên chọn việc của chúng tôi, ngành kế toán chiếm tỷ lệ siêu cao nhưng số tìm được việc rất tốt. mang người tháng nào cũng nộp hồ sơ mới mà mãi 2 năm sau mới tìm được việc”.
Con số chính thức mà Falmi đưa ra là 25% tổng số nhu cầu tìm việc khiến của người lao động trên địa bàn TPHCM năm 2012 là người học ngành Kế toán – Kiểm toán. Tỷ lệ người chọn việc trong ngành Tài chính – Ngân hàng cũng vô cùng cao.
Thế nhưng, nhu cầu các năm vừa rồi và 3 năm đến của cả nhóm ngành Tài chính – Ngân hàng – Kế toán – Kiểm toán chỉ chiếm tầm 6% tổng số nhu cầu lao động trên địa bàn TPHCM. Điều ấy cho thấy sự khó khăn khốc liệt cho 1 suất việc làm trong nhóm ngành này. Nó cũng cho thấy thị trường đang dư thừa nhân lực trong ngành này.
một thực tế khó khăn khác nữa là dù nhóm ngành này hiện dư thừa lao động nhưng lại với đa dạng người theo học. Theo khảo sát nhu cầu học nghề của Falmi đối với học sinh các trường THPT trên địa bàn TPHCM năm qua thì toàn bộ các em lại thích học ngành Tài chính – Ngân hàng (chiếm hơn 33,5% tổng số mẫu khảo sát). ví như xu thế này ko có sự thay đổi, chênh lệch cung – cầu sẽ ngày càng tăng cao và người học nghề này sẽ càng khó chọn việc.
Ông Tuấn cho rằng: “Việc “thừa – thiếu, thiếu – thừa” giữa những ngành, nghề vẫn luôn hiện diện cực kỳ rõ trên thị trường lao động. bắt buộc thống kê khả năng đáp ứng của các lĩnh vực, cân đối thừa, thiếu như thế nào. Đây chính là thông tin quan trọng giúp các cơ sở giáo dục rà soát lại giai đoạn phân phối lao động”.
Ông còn nhấn mạnh: “Hơn ai hết, chính người lao động, người sử dụng lao động phải biết thông tin cực kỳ quan trọng này. phổ biến chuyên gia quản lý giáo dục từng sở hữu ý kiến chỉ tiêu ngành đào tạo của trường ĐH, CĐ buộc phải dựa vào nhu cầu lao động. Cơ quan quản lý vĩ mô liên bộ, liên ngành tăng cường các cuộc điều tra thăm dò, dự báo xu thế biến động về nhu cầu nhân lực của từng lĩnh vực ngành nghề và công bố nhiều để nhà trường, thí sinh và xã hội đều biết những thông tin này. Như thế sẽ góp phần điều chỉnh sự mất cân đối cung – cầu lao động”.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét